Hệ Không Có Lưu Trữ
80% dùng ban ngày
Hệ Có Pin Lưu Trữ
30% ban ngày · 70% ban đêm
Tấm Pin Năng Lượng Mặt Trời
Việt Nam Solar lựa chọn
Lithium — Lưu Trữ
Pin lưu trữ LiFePO4
Bán 50% Sản Lượng Điện Mặt Trời Dư Thừa Theo NĐ 243
Phần sửa Nghị định 58/2025 đặt ra cơ chế bán sản lượng điện dư của điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ, nằm tại Điều 14 và Điều 15 sửa đổi. Đây là nhóm quy định sát nhất với hộ gia đình lắp điện mặt trời.[1]
Phần sửa Nghị định 57/2025 điều chỉnh cơ chế mua bán điện trực tiếp giữa đơn vị phát điện năng lượng tái tạo và khách hàng sử dụng điện lớn qua lưới điện kết nối riêng, gồm cả nguồn điện mặt trời mái nhà.[1]
Nghị định căn cứ Luật Điện lực số 61/2024/QH15, Luật Tổ chức Chính phủ số 63/2025/QH15 và Nghị quyết số 253/2025/QH15 của Quốc hội về tháo gỡ khó khăn phát triển năng lượng quốc gia giai đoạn 2026–2030, theo đề nghị của Bộ Công Thương.[1]
Nghị định 243 có hiệu lực thi hành từ ngày 26/6/2026, cùng ngày ký ban hành. Các mốc thời gian khác trong cơ chế bán điện dư đều tính từ thời điểm Nghị định có hiệu lực.[1]
Sản lượng điện dư gồm cả điện từ tấm quang điện và điện từ hệ thống lưu trữ, miễn là điện tích vào pin được lấy từ nguồn điện mặt trời mái nhà. Hệ có pin lưu trữ vẫn được tính phần dư phát lên lưới.[1]
Điểm đo sản lượng điện dư là đầu ra của bộ chuyển đổi nghịch lưu, tức sau khi dòng điện một chiều từ tấm pin đã chuyển thành dòng điện xoay chiều hòa vào lưới. Cách xác định này áp dụng thống nhất cho mọi nguồn.[1]
Điện mặt trời mái nhà là điện sản xuất từ các tấm quang điện lắp trên mái công trình xây dựng là nhà hoặc có kết cấu dạng nhà, kết nối với thiết bị điện và phục vụ hoạt động phát điện.[1]
| Trường hợp | Tỷ lệ điện dư được mua bán |
|---|---|
| Mặc định (khu vực có lưới quốc gia) | Không vượt quá 50% sản lượng phát ra[1] |
| Đến hết 31/12/2030, lưới đủ khả năng tiếp nhận | Được thỏa thuận cao hơn 50%[1] |
Vì khu vực chưa có lưới quốc gia nên không có ràng buộc về khả năng tiếp nhận. Toàn bộ điện năng phát lên lưới nội bộ của khu vực, đo tại công tơ, đều được tính để thanh toán cho bên bán.[1]
Kể từ khi khu vực được cấp điện từ hệ thống điện quốc gia, việc mua bán sản lượng điện dư thực hiện theo quy định áp dụng cho khu vực có lưới, tức quay về trần 50% hoặc thỏa thuận cao hơn 50% tùy thời điểm áp dụng.[1]
| # | Nhóm đối tượng được bán điện dư |
|---|---|
| 1 | Hộ gia đình dùng nhà ở riêng lẻ[1] |
| 2 | Nguồn đấu nối lưới điện quốc gia tại cấp điện áp hạ áp[1] |
| 3 | Nguồn tại miền núi, biên giới, hải đảo có lưới nhưng chưa đấu nối[1] |
| 4 | Nguồn tại công trình là tài sản công[1] |
| 5 | Nguồn khác có đấu nối, thuộc quy mô công suất trong quy hoạch[1] |
Mỗi kWh điện dư được tính theo giá điện năng thị trường điện bình quân của năm trước liền kề, do đơn vị điều hành giao dịch thị trường điện công bố. Con số cụ thể thay đổi theo từng năm chứ không ghi cứng trong Nghị định.[1]
Nếu giá thị trường điện bình quân năm trước cao hơn mức tối đa của khung giá phát điện điện mặt trời mặt đất không có pin lưu trữ theo miền, thì giá mua điện dư lấy bằng mức giá tối đa của khung giá đó, chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng.[1]
| Trường hợp | Cách thanh toán |
|---|---|
| Thực phát lớn hơn thỏa thuận | Thanh toán bằng đúng sản lượng điện dư theo thỏa thuận (kWh)[1] |
| Thực phát nhỏ hơn thỏa thuận | Thanh toán toàn bộ điện năng phát lên lưới đo đếm tại công tơ (kWh)[1] |
Phần lớn trường hợp bán điện dư cần hoàn tất thủ tục cấp giấy phép hoạt động điện lực trước khi mua bán. Nghị định dành ngoại lệ cho các trường hợp được miễn giấy phép theo quy định pháp luật điện lực hiện hành.[1]
Bên cạnh giấy phép, chủ nguồn điện còn có nghĩa vụ thông báo phát triển nguồn điện theo mẫu biểu và mốc công suất tương ứng, được quy định tại Điều 15 sửa đổi của Nghị định 58.[1]
| Trường hợp | Mẫu / Cơ quan tiếp nhận |
|---|---|
| Từ 100 kW trở lên, không đấu nối lưới quốc gia | Thông báo tới Ủy ban nhân dân cấp xã[1] |
| Đấu nối tại cấp điện áp hạ áp | Mẫu số 01 → Ủy ban nhân dân cấp xã[1] |
| Nhỏ hơn 01 kW (theo công suất inverter) | Không bắt buộc thực hiện[1] |
| Trung áp trở lên, không đăng ký bán điện dư | Mẫu số 02 → Ủy ban nhân dân cấp tỉnh[1] |
Không quá 50% sản lượng phát ra, hoặc cao hơn 50% đến hết năm 2030 khi lưới đủ khả năng tiếp nhận. Tỷ lệ này là một trong các điều khoản cốt lõi của hợp đồng.[1]
Theo giá điện năng thị trường điện bình quân năm trước liền kề, có trần là khung giá phát điện điện mặt trời mặt đất. Giá ghi trong hợp đồng bám theo công bố của đơn vị điều hành.[1]
Theo sản lượng đo đếm tại công tơ so với sản lượng thỏa thuận. Việc mua bán sản lượng điện dư phải bảo đảm tuân thủ quy định của Nghị định và các quy định pháp luật có liên quan.[1]
Hợp đồng mua bán điện đã ký kết trước thời điểm Nghị định có hiệu lực và phù hợp quy định được tiếp tục thực hiện đến hết thời hạn, hoặc các bên đàm phán, thống nhất sửa đổi theo quy định tại Nghị định 243.[1]
Tổ chức, cá nhân đã được cấp Giấy chứng nhận hoặc đã gửi Thông báo theo Nghị định 135/2024 hoặc Nghị định 58/2025 tiếp tục thực hiện theo nội dung đó; nếu điều chỉnh, bổ sung hoặc gửi lại thì theo Nghị định 243.[1]
Trong thời hạn 15 ngày kể từ thời điểm Nghị định có hiệu lực, Tập đoàn Điện lực Việt Nam có trách nhiệm tính toán chi phí thanh toán bù trừ chênh lệch theo quy định tại Nghị định.[1]
| Tiêu chí | Bán điện dư (NĐ 58) | Mua bán điện trực tiếp (NĐ 57) |
|---|---|---|
| Đối tượng | Hộ gia đình, nguồn tự sản tự tiêu[2] | Đơn vị phát điện bán cho khách hàng lớn[3] |
| Trần điện dư bán cho EVN | Không quá 50% sản lượng phát ra[2] | Không quá 50% sản lượng thực phát[3] |
| Bối cảnh | Phát phần dư lên lưới[2] | Lưới điện kết nối riêng[3] |