Được Bán 50% Sản Lượng Điện Mặt Trời Theo 243/2026/NĐ-CP

Bán 50% Sản Lượng Điện Mặt Trời Dư Thừa Theo NĐ 243

Bán điện mặt trời dư thừa theo Nghị định 243/2026/NĐ-CP là cơ chế cho phép chủ nguồn điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ bán phần sản lượng điện dư phát lên lưới cho Tổng công ty Điện lực, Công ty Điện lực. Nghị định do Chính phủ ban hành ngày 26/6/2026 và có hiệu lực thi hành ngay trong ngày.[1]
Theo Nghị định 243, phần sản lượng điện dư được mua bán không vượt quá 50% sản lượng điện phát ra của nguồn điện mặt trời mái nhà theo cường độ bức xạ; riêng giai đoạn từ khi Nghị định có hiệu lực đến hết ngày 31/12/2030, hai bên được thỏa thuận tỷ lệ cao hơn 50% nếu lưới điện khu vực bảo đảm khả năng tiếp nhận.[1]
Nghị định 243 sửa đổi, bổ sung cả Nghị định 57/2025/NĐ-CP về cơ chế mua bán điện trực tiếp và Nghị định 58/2025/NĐ-CP về phát triển điện năng lượng tái tạo, điện năng lượng mới. Cơ chế bán điện dư của điện mặt trời mái nhà nằm tại phần sửa đổi Điều 14 và Điều 15 của Nghị định 58.[1]

Trần điện dư50%sản lượng phát ra
Hiệu lực26/6/2026ngay ngày ký
Cao hơn 50%đến 2030nếu lưới đủ tải
Văn bản gốcNĐ 243sửa NĐ 57 + 58
Bán điện mặt trời dư thừa theo Nghị định 243/2026/NĐ-CP là cơ chế cho phép nguồn điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ bán phần điện dư phát lên lưới cho Tổng công ty Điện lực, Công ty Điện lực. Phần điện dư được mua bán không vượt quá 50% sản lượng điện phát ra; từ khi Nghị định có hiệu lực (26/6/2026) đến hết 31/12/2030, hai bên được thỏa thuận tỷ lệ cao hơn 50% khi lưới đủ khả năng tiếp nhận. Giá mua là giá điện năng thị trường điện bình quân năm trước liền kề, có trần theo khung giá điện mặt trời mặt đất.[1]
📖 Mục lục bài viết
  1. 1. Nghị định 243/2026 là gì — sửa NĐ 57 và NĐ 58
  2. 2. Đọc toàn văn Nghị định 243 — tải bản PDF đầy đủ
  3. 3. Điện mặt trời mái nhà dư thừa là gì
  4. 4. Vì sao chỉ bán tối đa 50% điện mặt trời dư thừa
  5. 5. Miền núi, hải đảo không giới hạn điện mặt trời dư thừa
  6. 6. Ai được bán điện mặt trời dư thừa cho EVN — 5 nhóm
  7. 7. Giá mua điện mặt trời dư thừa là bao nhiêu đồng/kWh
  8. 8. Công thức tính sản lượng điện mặt trời dư thừa A = PVout × kWp
  9. 9. Thanh toán tiền bán điện mặt trời dư thừa hằng tháng
  10. 10. Thủ tục bán điện mặt trời dư thừa và giấy phép điện lực
  11. 11. Thông báo phát triển nguồn điện mặt trời mái nhà — Mẫu 01, Mẫu 02
  12. 12. Hợp đồng mua bán điện mặt trời dư thừa với EVN
  13. 13. Hệ điện mặt trời lắp trước 26/6/2026 có được bán điện dư không
  14. 14. Bán điện mặt trời dư thừa khác gì mua bán điện trực tiếp
  15. 15. Câu hỏi thường gặp về bán điện mặt trời dư thừa theo NĐ 243

1. Nghị định 243/2026 là gì — sửa NĐ 57 và NĐ 58 Tổng quan

Nghị định 243/2026/NĐ-CP là văn bản sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 57/2025/NĐ-CP về cơ chế mua bán điện trực tiếp và Nghị định 58/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Điện lực về phát triển điện năng lượng tái tạo, điện năng lượng mới. Nghị định ký ngày 26/6/2026 và có hiệu lực thi hành cùng ngày.[1]
Sửa NĐ 58

Cơ chế bán điện dư mái nhà

Phần sửa Nghị định 58/2025 đặt ra cơ chế bán sản lượng điện dư của điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ, nằm tại Điều 14 và Điều 15 sửa đổi. Đây là nhóm quy định sát nhất với hộ gia đình lắp điện mặt trời.[1]

Sửa NĐ 57

Mua bán điện trực tiếp

Phần sửa Nghị định 57/2025 điều chỉnh cơ chế mua bán điện trực tiếp giữa đơn vị phát điện năng lượng tái tạo và khách hàng sử dụng điện lớn qua lưới điện kết nối riêng, gồm cả nguồn điện mặt trời mái nhà.[1]

Căn cứ

Cơ sở pháp lý

Nghị định căn cứ Luật Điện lực số 61/2024/QH15, Luật Tổ chức Chính phủ số 63/2025/QH15 và Nghị quyết số 253/2025/QH15 của Quốc hội về tháo gỡ khó khăn phát triển năng lượng quốc gia giai đoạn 2026–2030, theo đề nghị của Bộ Công Thương.[1]

Hiệu lực

Áp dụng từ 26/6/2026

Nghị định 243 có hiệu lực thi hành từ ngày 26/6/2026, cùng ngày ký ban hành. Các mốc thời gian khác trong cơ chế bán điện dư đều tính từ thời điểm Nghị định có hiệu lực.[1]

Hai nhóm sửa đổi, một chủ đề chung là điện dưCả phần sửa Nghị định 57 và Nghị định 58 đều giới hạn phần điện mặt trời mái nhà bán cho ngành điện ở mức không quá 50% sản lượng. Khác nhau nằm ở bối cảnh: Nghị định 58 cho hộ gia đình và nguồn tự sản tự tiêu, còn Nghị định 57 gắn với mô hình bán điện trực tiếp cho khách hàng lớn.[1]

2. Đọc toàn văn Nghị định 243 — tải bản PDF đầy đủ Toàn văn

Anh/chị có thể đọc và tải toàn văn Nghị định 243/2026/NĐ-CP bản PDF đầy đủ tại nút bên dưới. Đây là văn bản gốc do Chính phủ ban hành ngày 26/6/2026, gồm toàn bộ các điều khoản sửa đổi Nghị định 57/2025 và Nghị định 58/2025.[1]
Toàn văn Nghị định 243/2026/NĐ-CP (PDF)
Văn bản gốc — 78 trang — ký số 26/6/2026
⬇ Đọc toàn bộ đầy đủ
Bản PDF dùng để tra cứu trực tiếp điều, khoảnBản PDF giúp anh/chị đối chiếu từng điều, khoản được trích dẫn trong bài: cơ chế bán sản lượng điện dư tại Điều 14 sửa đổi của Nghị định 58, nghĩa vụ thông báo phát triển nguồn điện tại Điều 15, điều khoản chuyển tiếp tại Điều 3 và hiệu lực thi hành tại Điều 4. Việt Nam Solar khuyến khích anh/chị đối chiếu phần tóm tắt trong bài với văn bản gốc trước khi quyết định lắp đặt hoặc đăng ký bán điện dư.[1]

3. Điện mặt trời mái nhà dư thừa là gì Khái niệm

Sản lượng điện dư là phần điện của nguồn điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ phát vào lưới điện khi không tiêu thụ hết, bao gồm cả điện dư từ hệ thống lưu trữ được tích từ nguồn điện mặt trời mái nhà (nếu có), và được xác định tại đầu ra của bộ chuyển đổi nghịch lưu (inverter).[1]
Gồm cả pin lưu trữ

Điện tấm pin và điện từ pin

Sản lượng điện dư gồm cả điện từ tấm quang điện và điện từ hệ thống lưu trữ, miễn là điện tích vào pin được lấy từ nguồn điện mặt trời mái nhà. Hệ có pin lưu trữ vẫn được tính phần dư phát lên lưới.[1]

Điểm đo

Đo tại đầu ra inverter

Điểm đo sản lượng điện dư là đầu ra của bộ chuyển đổi nghịch lưu, tức sau khi dòng điện một chiều từ tấm pin đã chuyển thành dòng điện xoay chiều hòa vào lưới. Cách xác định này áp dụng thống nhất cho mọi nguồn.[1]

Định nghĩa nguồn

Điện mặt trời mái nhà

Điện mặt trời mái nhà là điện sản xuất từ các tấm quang điện lắp trên mái công trình xây dựng là nhà hoặc có kết cấu dạng nhà, kết nối với thiết bị điện và phục vụ hoạt động phát điện.[1]

Phần được bán là điện dư, không phải toàn bộ sản lượngĐiện mặt trời mái nhà tự sản tự tiêu trước hết phục vụ nhu cầu tại chỗ. Chỉ phần điện không dùng hết và phát lên lưới mới là sản lượng điện dư được đưa vào cơ chế mua bán với ngành điện theo Nghị định 243.[1]

4. Vì sao chỉ bán tối đa 50% điện mặt trời dư thừa Trần 50%

Trần 50% điện mặt trời dư thừa: tối đa 50%, trên 50% đến hết 2030, miền núi hải đảo không giới hạn theo NĐ 243

Sản lượng điện dư được mua bán theo thỏa thuận hai bên nhưng không vượt quá 50% sản lượng điện phát ra tại đầu ra của nguồn điện mặt trời mái nhà theo cường độ bức xạ. Từ khi Nghị định có hiệu lực đến hết ngày 31/12/2030, hai bên được thỏa thuận tỷ lệ cao hơn 50% nếu lưới điện khu vực đấu nối bảo đảm khả năng tiếp nhận và đáp ứng điều kiện vận hành an toàn lưới điện.[1]
Trường hợp Tỷ lệ điện dư được mua bán
Mặc định (khu vực có lưới quốc gia) Không vượt quá 50% sản lượng phát ra[1]
Đến hết 31/12/2030, lưới đủ khả năng tiếp nhận Được thỏa thuận cao hơn 50%[1]
50% là trần mặc định, hơn 50% phụ thuộc khả năng tiếp nhận của lướiMức 50% áp dụng cho khu vực có lưới điện quốc gia. Tỷ lệ cao hơn 50% chỉ áp dụng trong giai đoạn đến hết năm 2030, khi lưới điện tại khu vực đấu nối bảo đảm tiếp nhận và việc mua bán đáp ứng điều kiện vận hành an toàn lưới điện cùng phương thức vận hành hệ thống điện theo quy định.[1]

5. Miền núi, hải đảo không giới hạn điện mặt trời dư thừa Hải đảo

Đối với khu vực miền núi, biên giới, hải đảo chưa được cấp điện từ hệ thống điện quốc gia, Nghị định 243 không giới hạn sản lượng điện dư được mua bán. Toàn bộ điện năng phát lên lưới điện của bên mua điện dư, đo đếm tại công tơ, đều được thanh toán.[1]
Không giới hạn %

Thanh toán toàn bộ điện phát lên lưới

Vì khu vực chưa có lưới quốc gia nên không có ràng buộc về khả năng tiếp nhận. Toàn bộ điện năng phát lên lưới nội bộ của khu vực, đo tại công tơ, đều được tính để thanh toán cho bên bán.[1]

Khi có lưới quốc gia

Chuyển về cơ chế trần 50%

Kể từ khi khu vực được cấp điện từ hệ thống điện quốc gia, việc mua bán sản lượng điện dư thực hiện theo quy định áp dụng cho khu vực có lưới, tức quay về trần 50% hoặc thỏa thuận cao hơn 50% tùy thời điểm áp dụng.[1]

6. Ai được bán điện mặt trời dư thừa cho EVN — 5 nhóm Ai bán

5 nhóm đối tượng được bán điện mặt trời dư thừa cho EVN theo Nghị định 243

Nghị định 243 quy định 5 nhóm nguồn điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ được bán sản lượng điện dư: hộ gia đình dùng nhà ở riêng lẻ; nguồn đấu nối lưới điện quốc gia tại cấp điện áp hạ áp; nguồn lắp tại miền núi, biên giới, hải đảo có lưới nhưng chưa đấu nối; nguồn lắp tại công trình là tài sản công; và nguồn khác có đấu nối thuộc quy mô công suất trong quy hoạch phát triển điện lực.[1]
# Nhóm đối tượng được bán điện dư
1 Hộ gia đình dùng nhà ở riêng lẻ[1]
2 Nguồn đấu nối lưới điện quốc gia tại cấp điện áp hạ áp[1]
3 Nguồn tại miền núi, biên giới, hải đảo có lưới nhưng chưa đấu nối[1]
4 Nguồn tại công trình là tài sản công[1]
5 Nguồn khác có đấu nối, thuộc quy mô công suất trong quy hoạch[1]
Mỗi nhóm gắn điều kiện riêngVới nguồn tại công trình là tài sản công, việc mua bán điện dư phải tuân thủ quy định của Nghị định, pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công và phù hợp chức năng, nhiệm vụ của bên bán. Nhóm nguồn khác có đấu nối phải thuộc quy mô công suất phát triển trong quy hoạch phát triển điện lực, kế hoạch thực hiện quy hoạch hoặc phương án phát triển mạng lưới cấp điện trong quy hoạch tỉnh.[1]

7. Giá mua điện mặt trời dư thừa là bao nhiêu đồng/kWh Giá mua

Giá mua bán sản lượng điện dư là giá điện năng thị trường điện bình quân trong năm trước liền kề do đơn vị điều hành giao dịch thị trường điện công bố, tính bằng đồng Việt Nam trên kWh. Nghị định không ấn định một con số cố định mà gắn giá mua điện dư với giá thị trường điện của năm liền trước.[1]
Cơ sở giá

Giá thị trường điện bình quân năm trước

Mỗi kWh điện dư được tính theo giá điện năng thị trường điện bình quân của năm trước liền kề, do đơn vị điều hành giao dịch thị trường điện công bố. Con số cụ thể thay đổi theo từng năm chứ không ghi cứng trong Nghị định.[1]

Mức trần

Trần theo khung giá điện mặt trời mặt đất

Nếu giá thị trường điện bình quân năm trước cao hơn mức tối đa của khung giá phát điện điện mặt trời mặt đất không có pin lưu trữ theo miền, thì giá mua điện dư lấy bằng mức giá tối đa của khung giá đó, chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng.[1]

Số tiền mỗi kWh phụ thuộc công bố của đơn vị điều hànhMức tiền cụ thể mỗi kWh điện dư phụ thuộc giá thị trường điện bình quân năm liền kề do đơn vị điều hành công bố và khung giá phát điện điện mặt trời mặt đất tương ứng theo miền, không phải một con số ghi cố định trong Nghị định 243.[1]

8. Công thức tính sản lượng điện mặt trời dư thừa A = PVout × kWp Công thức

Giá mua và công thức tính tiền điện mặt trời dư thừa A = PVout × P theo Nghị định 243

Sản lượng điện phát ra tại đầu ra của nguồn điện mặt trời mái nhà theo cường độ bức xạ hằng tháng được tính bằng công thức A = PVout × P, trong đó A là sản lượng tháng (kWh), PVout là hệ số sản lượng đặc trưng theo tỉnh (kWh/kWp), và P là tổng công suất định mức của các tấm quang điện lắp đặt thực tế (kWp).[1]

Hệ số sản lượng theo tỉnh

PVout là hệ số đặc trưng thể hiện lượng điện trung bình phát ra trên 1 kWp công suất trong tháng, tại từng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, đơn vị kWh/kWp. Hệ số PVout 12 tháng do Tập đoàn Điện lực Việt Nam công bố công khai sau khi có ý kiến của Bộ Công Thương.[1]

P (kWp)

Tổng công suất tấm pin lắp thực tế

P là tổng công suất định mức cộng dồn của các tấm quang điện lắp đặt thực tế, đơn vị kWp. Nhân hệ số PVout của tỉnh với công suất lắp đặt cho ra sản lượng phát ra theo cường độ bức xạ của tháng.[1]

Sản lượng phát ra là cơ sở để xác định mức trần 50%Từ sản lượng phát ra theo cường độ bức xạ tính theo công thức A = PVout × P, mức trần 50% được phép bán sẽ được xác định. Đây cũng là đại lượng dùng trong công thức tính sản lượng điện dư theo thỏa thuận khi thanh toán.[1]

9. Thanh toán tiền bán điện mặt trời dư thừa hằng tháng Thanh toán

Tiền bán điện dư được thanh toán hằng tháng theo nguyên tắc so sánh giữa sản lượng điện dư thực tế phát lên lưới và sản lượng điện dư theo thỏa thuận trong hợp đồng. Sản lượng điện dư theo thỏa thuận bằng A(tt) = k × A, với k là tỷ lệ phần trăm hai bên thỏa thuận (50% hoặc cao hơn 50% đến hết năm 2030), A là sản lượng phát ra theo cường độ bức xạ.[1]
Trường hợp Cách thanh toán
Thực phát lớn hơn thỏa thuận Thanh toán bằng đúng sản lượng điện dư theo thỏa thuận (kWh)[1]
Thực phát nhỏ hơn thỏa thuận Thanh toán toàn bộ điện năng phát lên lưới đo đếm tại công tơ (kWh)[1]
Đối chiếu sản lượng thực phát với mức thỏa thuận mỗi thángKhi sản lượng điện dư thực tế phát vào lưới của bên mua lớn hơn mức thỏa thuận, phần thanh toán dừng ở mức thỏa thuận. Khi thực phát nhỏ hơn, bên bán được thanh toán toàn bộ điện năng đo tại công tơ. Tỷ lệ k được xác định theo điểm a hoặc điểm b khoản 2 của Điều 14.[1]

10. Thủ tục bán điện mặt trời dư thừa và giấy phép điện lực Thủ tục

Tổ chức, cá nhân bán sản lượng điện dư phải thực hiện thủ tục cấp giấy phép hoạt động điện lực, trừ trường hợp được miễn giấy phép hoạt động điện lực theo quy định. Đây là điều kiện pháp lý gắn với việc đưa điện dư vào mua bán với ngành điện.[1]
Giấy phép

Cấp giấy phép hoạt động điện lực

Phần lớn trường hợp bán điện dư cần hoàn tất thủ tục cấp giấy phép hoạt động điện lực trước khi mua bán. Nghị định dành ngoại lệ cho các trường hợp được miễn giấy phép theo quy định pháp luật điện lực hiện hành.[1]

Thông báo

Kèm nghĩa vụ thông báo nguồn điện

Bên cạnh giấy phép, chủ nguồn điện còn có nghĩa vụ thông báo phát triển nguồn điện theo mẫu biểu và mốc công suất tương ứng, được quy định tại Điều 15 sửa đổi của Nghị định 58.[1]

11. Thông báo phát triển nguồn điện mặt trời mái nhà — Mẫu 01, Mẫu 02 Mẫu 01/02

Nghị định 243 quy định nghĩa vụ thông báo phát triển nguồn điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ theo mẫu biểu và cơ quan tiếp nhận khác nhau tùy quy mô công suất và cách đấu nối. Các mốc công suất và mẫu thông báo được phân định rõ trong Điều 15 sửa đổi.[1]
Trường hợp Mẫu / Cơ quan tiếp nhận
Từ 100 kW trở lên, không đấu nối lưới quốc gia Thông báo tới Ủy ban nhân dân cấp xã[1]
Đấu nối tại cấp điện áp hạ áp Mẫu số 01 → Ủy ban nhân dân cấp xã[1]
Nhỏ hơn 01 kW (theo công suất inverter) Không bắt buộc thực hiện[1]
Trung áp trở lên, không đăng ký bán điện dư Mẫu số 02 → Ủy ban nhân dân cấp tỉnh[1]
Gửi trực tuyến trước khi lắp đặt ít nhất 10 ngày làm việcViệc gửi thông báo được thực hiện trực tuyến tại Cổng Dịch vụ công quốc gia hoặc Ứng dụng định danh quốc gia, trước ngày bắt đầu lắp đặt nguồn điện ít nhất 10 ngày làm việc. Nguồn từ 100 kW trở lên không đấu nối lưới gửi thông tin về tên, quy mô công suất, địa điểm và thời điểm thực hiện tới Ủy ban nhân dân cấp xã.[1]

12. Hợp đồng mua bán điện mặt trời dư thừa với EVN Hợp đồng

Hợp đồng mua bán sản lượng điện dư do các bên thỏa thuận ký kết, là cơ sở để Tổng công ty Điện lực, Công ty Điện lực thanh toán cho chủ nguồn điện mặt trời mái nhà. Hợp đồng vận hành dựa trên các điều khoản về tỷ lệ điện dư, giá mua và cách thanh toán mà Nghị định 243 quy định.[1]
Tỷ lệ

Tỷ lệ sản lượng điện dư

Không quá 50% sản lượng phát ra, hoặc cao hơn 50% đến hết năm 2030 khi lưới đủ khả năng tiếp nhận. Tỷ lệ này là một trong các điều khoản cốt lõi của hợp đồng.[1]

Giá mua

Giá mua bán điện dư

Theo giá điện năng thị trường điện bình quân năm trước liền kề, có trần là khung giá phát điện điện mặt trời mặt đất. Giá ghi trong hợp đồng bám theo công bố của đơn vị điều hành.[1]

Thanh toán

Cách thanh toán hằng tháng

Theo sản lượng đo đếm tại công tơ so với sản lượng thỏa thuận. Việc mua bán sản lượng điện dư phải bảo đảm tuân thủ quy định của Nghị định và các quy định pháp luật có liên quan.[1]

13. Hệ điện mặt trời lắp trước 26/6/2026 có được bán điện dư không Chuyển tiếp

Hệ thống điện mặt trời mái nhà đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký hoặc đã gửi Thông báo phát triển nguồn theo Nghị định 135/2024/NĐ-CP hoặc Nghị định 58/2025/NĐ-CP trước thời điểm Nghị định 243 có hiệu lực được tiếp tục thực hiện theo nội dung đã cấp hoặc Thông báo đã gửi. Anh/chị không buộc phải làm lại từ đầu khi đã hoàn tất thủ tục theo quy định cũ.[1][4]
Hợp đồng đã ký

Tiếp tục đến hết thời hạn

Hợp đồng mua bán điện đã ký kết trước thời điểm Nghị định có hiệu lực và phù hợp quy định được tiếp tục thực hiện đến hết thời hạn, hoặc các bên đàm phán, thống nhất sửa đổi theo quy định tại Nghị định 243.[1]

Giấy chứng nhận cũ

Theo NĐ 135/2024 hoặc NĐ 58/2025

Tổ chức, cá nhân đã được cấp Giấy chứng nhận hoặc đã gửi Thông báo theo Nghị định 135/2024 hoặc Nghị định 58/2025 tiếp tục thực hiện theo nội dung đó; nếu điều chỉnh, bổ sung hoặc gửi lại thì theo Nghị định 243.[1]

Trong 15 ngày

EVN tính bù trừ chênh lệch

Trong thời hạn 15 ngày kể từ thời điểm Nghị định có hiệu lực, Tập đoàn Điện lực Việt Nam có trách nhiệm tính toán chi phí thanh toán bù trừ chênh lệch theo quy định tại Nghị định.[1]

14. Bán điện mặt trời dư thừa khác gì mua bán điện trực tiếp So NĐ 57

Nghị định 243 sửa đổi cả hai cơ chế: bán điện dư của điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ theo Nghị định 58, và mua bán điện trực tiếp qua lưới điện kết nối riêng theo Nghị định 57. Cả hai đều giới hạn phần điện mặt trời mái nhà bán cho ngành điện ở mức không quá 50%, nhưng khác nhau về bối cảnh áp dụng.[2][3]
Tiêu chí Bán điện dư (NĐ 58) Mua bán điện trực tiếp (NĐ 57)
Đối tượng Hộ gia đình, nguồn tự sản tự tiêu[2] Đơn vị phát điện bán cho khách hàng lớn[3]
Trần điện dư bán cho EVN Không quá 50% sản lượng phát ra[2] Không quá 50% sản lượng thực phát[3]
Bối cảnh Phát phần dư lên lưới[2] Lưới điện kết nối riêng[3]
Hai cơ chế, cùng trần 50%, khác bối cảnhTheo phần sửa Nghị định 57, đơn vị đầu tư nguồn điện mặt trời mái nhà bán điện trực tiếp cho khách hàng lớn qua lưới kết nối riêng, khi bán phần dư cho Tổng công ty Điện lực, Công ty Điện lực thì không quá 50% sản lượng điện thực phát; giá mua tương tự cơ chế Nghị định 58. Cơ chế Nghị định 58 hướng tới hộ gia đình và nguồn tự sản tự tiêu.[3]

15. Câu hỏi thường gặp về bán điện mặt trời dư thừa theo NĐ 243 FAQ

Mười hai câu hỏi dưới đây gom từ các thắc mắc thường gặp của hộ gia đình và chủ nguồn điện mặt trời mái nhà về cơ chế bán sản lượng điện dư theo Nghị định 243/2026/NĐ-CP. Nội dung bám đúng câu từ của Nghị định, đọc nhanh để nắm quyền lợi và nghĩa vụ trước khi quyết định.
Bán điện mặt trời dư thừa theo NĐ 243 là gì?
Là cơ chế cho phép chủ nguồn điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ bán phần sản lượng điện dư phát lên lưới cho Tổng công ty Điện lực, Công ty Điện lực, theo Nghị định 243/2026/NĐ-CP ngày 26/6/2026. Sản lượng điện dư được đo tại đầu ra bộ chuyển đổi nghịch lưu (inverter).[1]
Được bán tối đa bao nhiêu phần trăm điện dư?
Phần điện dư được mua bán không vượt quá 50% sản lượng điện phát ra của nguồn điện mặt trời mái nhà theo cường độ bức xạ. Đây là mức trần mặc định áp dụng cho khu vực có lưới điện quốc gia.[1]
Khi nào được bán hơn 50% điện dư?
Từ ngày Nghị định có hiệu lực đến hết 31/12/2030, hai bên được thỏa thuận tỷ lệ cao hơn 50% nếu lưới điện khu vực đấu nối bảo đảm khả năng tiếp nhận và đáp ứng điều kiện vận hành an toàn lưới điện.[1]
Giá mua điện dư tính thế nào?
Giá mua bán điện dư là giá điện năng thị trường điện bình quân năm trước liền kề do đơn vị điều hành giao dịch thị trường điện công bố. Nếu giá này cao hơn khung giá phát điện điện mặt trời mặt đất không pin lưu trữ theo miền, lấy mức giá tối đa của khung giá đó, chưa gồm thuế giá trị gia tăng.[1]
Hộ gia đình có được bán điện dư không?
Có. Hộ gia đình dùng nhà ở riêng lẻ là một trong 5 nhóm nguồn điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ được bán sản lượng điện dư theo Nghị định 243.[1]
Bán điện dư có cần giấy phép không?
Tổ chức, cá nhân bán sản lượng điện dư phải thực hiện thủ tục cấp giấy phép hoạt động điện lực, trừ trường hợp được miễn giấy phép hoạt động điện lực theo quy định.[1]
Phải gửi thông báo theo mẫu nào?
Nguồn đấu nối hạ áp gửi Thông báo theo Mẫu số 01 đến Ủy ban nhân dân cấp xã; nguồn đấu nối từ trung áp trở lên và không đăng ký bán điện dư gửi Mẫu số 02 đến Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Gửi trực tuyến qua Cổng Dịch vụ công quốc gia hoặc Ứng dụng định danh quốc gia trước khi lắp ít nhất 10 ngày làm việc.[1]
Công suất dưới 1 kW có phải thông báo không?
Không bắt buộc. Trường hợp lắp đặt nguồn điện có công suất nhỏ hơn 01 kW tính theo công suất bộ chuyển đổi nghịch lưu thì không bắt buộc thực hiện thông báo theo Mẫu số 01.[1]
Hệ thống lắp trước 26/6/2026 có phải làm lại?
Không. Hệ thống đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký hoặc đã gửi Thông báo theo Nghị định 135/2024/NĐ-CP hoặc Nghị định 58/2025/NĐ-CP trước khi Nghị định 243 có hiệu lực được tiếp tục thực hiện theo nội dung đã cấp hoặc đã gửi.[1][4]
Nghị định 243 có hiệu lực từ khi nào?
Nghị định 243/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 26/6/2026, cùng ngày ký ban hành.[1]
Sản lượng điện dư được tính thế nào?
Sản lượng phát ra theo cường độ bức xạ hằng tháng tính bằng công thức A = PVout × P, với PVout là hệ số sản lượng theo tỉnh do Tập đoàn Điện lực Việt Nam công bố, P là tổng công suất tấm pin lắp đặt thực tế tính bằng kWp.[1]
Khu vực hải đảo chưa có lưới quốc gia bán điện dư thế nào?
Đối với miền núi, biên giới, hải đảo chưa được cấp điện từ hệ thống điện quốc gia, Nghị định không giới hạn sản lượng điện dư được mua bán; toàn bộ điện năng phát lên lưới đo tại công tơ được thanh toán.[1]

Tài liệu tham khảo

Bán điện mặt trời dư thừa theo Nghị định 243/2026/NĐ-CP cho phép nguồn điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ bán không quá 50% sản lượng phát ra cho Tổng công ty Điện lực, Công ty Điện lực; được thỏa thuận cao hơn 50% đến hết 31/12/2030 khi lưới đủ tải. Nghị định 243 sửa đổi Nghị định 58/2025 và Nghị định 57/2025, hiệu lực từ 26/6/2026.[1] Mọi số liệu trong bài dẫn từ văn bản quy phạm pháp luật gốc.
2Chính phủ. (2025). Nghị định 58/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Điện lực về phát triển điện năng lượng tái tạo, điện năng lượng mới (văn bản được sửa đổi, bổ sung bởi NĐ 243).
3Chính phủ. (2025). Nghị định 57/2025/NĐ-CP quy định cơ chế mua bán điện trực tiếp giữa đơn vị phát điện năng lượng tái tạo và khách hàng sử dụng điện lớn (văn bản được sửa đổi, bổ sung bởi NĐ 243).
4Chính phủ. (2024). Nghị định 135/2024/NĐ-CP về cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ (dẫn chiếu tại điều khoản chuyển tiếp).
5Quốc hội. (2024). Luật Điện lực số 61/2024/QH15 (căn cứ ban hành Nghị định 243).
VNS

Bài viết này được biên soạn và kiểm duyệt bởi đội ngũ 50 kỹ sư Công ty TNHH Việt Nam Solar, đơn vị đã triển khai hàng chục nghìn dự án điện mặt trời khắp Việt Nam kể từ năm 2016, phân phối chính hãng hơn 20 thương hiệu biến tần, tấm pin và pin lưu trữ hàng đầu thế giới. Toàn bộ kỹ sư đều có chứng chỉ hành nghề về điện và xây dựng do cơ quan Nhà nước cấp.

Việt Nam Solar hoạt động với đầy đủ tư cách pháp nhân: Giấy phép hoạt động điện lực số 175/GP-SCT do Sở Công Thương cấp, Giấy phép năng lực xây dựng HCM-00076550, nhãn hiệu độc quyền VN-4-0604703. Hệ thống quản lý đạt ISO 9001:2015 Quản lý chất lượng, ISO 14001:2015 Quản lý môi trường và ISO 45001:2018 An toàn lao động, xác minh trên IAF CertSearch.

MST: 0315209693Hotline: 088.60.60.660Website: vietnamsolar.vnLinkedIn